Bạn hãy đi gặp một phụ nữ chừng 25 tuổi và bạn hỏi: “Cô
bao nhiêu tuổi?” – “Em mười tám tuổi!” Bạn sẽ hiểu ngay tâm lý cô ta đang muốn
gì. Ấy thế mà cũng có người hỏi: “Cô bao nhiêu tuổi?” Cô ta đáp: “Thưa ông, tôi
ba mươi tuổi”. Cố nhiên là ông này sẽ chậm hiểu hon. Cũng cô ấy thôi, nhưng có
lúc bạn hỏi tuổi thì cô ta ỡm ờ: “Em quên mất rồi, anh nhớ lấy…” ấy thế là đã
vào giai đoạn khác rồi đấy. Mỗi câu trả lời của cô ấy biểu hiện một trạng thái
tâm lý khác nhau, mà nhà tiểu thuyết N. L. cần phải hiểu ra.
Không phải đơn thuần tâm lý đâu, mà lại dính đến cả
sinh lý, bệnh tật nữa đấy! Ví dụ một ngày nào đó, cô ta ốm mê man, bạn hỏi: “Em
mấy tuổi?” Cô ta lại trả lời: “Tôi ăn cơm”. Thế là dấu hiệu của một chứng bệnh
thần kinh nào đó. Nếu bạn hỏi: “Em mấy tuổi?” Cô ta lại hỏi lại: “Em mấy tuổi?”
thì đó lại là một chứng bệnh thứ hai. Và sẽ là chứng bệnh thứ ba nếu bạn hỏi:
“Em mấy tuổi?”. Cô ta chỉ im lặng, cười không đáp. Còn các chứng bệnh này là
chứng bệnh gì thì phải hỏi các bác sĩ khoa thần kinh đã rồi hãy viết! Bởi vì
các bác sĩ ấy bây giờ đọc tiểu thuyết nhiều lắm, mà tả sai tầm lý (nhất là tâm
lý người bệnh) thì các bác sĩ ấy sẽ cười chúng ta và không mua sách của chúng
ta nữa đâu.
Nhiều nhà văn ngày xưa cho nhân vật đối đáp chỉ là để kéo
dài tác phẩm cho nó thành 300 trang, 500 trang mà ra oai với đời (và tiện thể
có thêm tiền nhuận bút):
-
Anh đi đâu đấy?
-
Tôi đi câu cá!
-
Đi câu cá thật á?
-
Lại chẳng thật.
-
Thế mà tôi ngỡ anh không thích đi câu cá.
-
Đi câu cá lại còn không thích.
-
Thế quả là giờ anh di câu cá nhỉ?…
Một số nhà văn ta hiện nay, tuy còn viết dài nhưng
động cơ lại không phải như trên. Các bạn ấy chỉ muốn tạo điều kiện cho nhân vật
đối đáp để nhân đó mình có thể dài dòng lý luận, thuyết lý.
-
Tôi đề nghị cúng anh rằng chúng ta cần thảo luận vốn đề.
-
Nói chung thì tôi đồng ý thảo luận, nhưng nói riêng tôi không
đồng ý v.v…
Bạn sẽ cho nhân vật đối đáp. Không phải để cho độc giả sợ
hay để cho bạn thỏa mãn một cái nhu cầu đối đáp nào! Mà quả thật, chỉ vì lúc ấy
tâm lý nhân vật cần biểu lộ ra ngoài bằng ngôn ngữ. Vậy thì trước khi hiểu đó
là ngôn ngữ gì, thì phải hiểu đấy là tâm lý gì. Người ta buồn hay vui, muốn nói
bóng gió hay muốn nói đùa, muốn nói bâng quơ hay muốn nói cố ý. Một mặt khác,
bạn lại phải có một cái kho dự trữ đồ sộ về các lời nói, các kiểu nói, các
giọng nói, nông dân nói thế nào, công nhân nói thế nào, ông sư, cụ đạo nói thế
nào, thế nào là người dấm dẳn nói, và thế nào là ông ba hoa nói. Phải nhớ rằng
có nhiều nhà văn tâm lý nhân vật khá sành, nhưng đối thoại trong tác phẩm họ
lại kém, vì họ thiếu một cái kho dự trữ ấy, họ không thuộc tiếng nói của quần chúng,
của các hạng người trong xã hội. Ví dụ tả một anh lính lệ nói: “Ông quan vừa
mắng người con ông ta” thì chả ra cái gì. Nhưng cho anh lính ấy nói: “Quan lớn
vừa quở cậu ấm”, thế là lột được tâm lý anh ấy, lại vừa lột được bản chất của
xã hội phong kiến cũ.
Cũng có khi nhiều nhà văn biết rất nhiều tiếng nói quần
chúng, rất nhiều tục ngữ, ca dao, nhung họ đưa các điều hiểu biết ấy vào sách
chỉ để tỏ mình vừa ở xã về, hơn là để biểu hiện các tâm lý nhân vật. Vì tiếng
nói của người thì họ thuộc, nhưng tâm lý, tư tưởng của người thì họ lại chưa
quen.
Cho nên không phải cứ đối thoại là bật ra tâm lý đâu. Bạn
cứ đọc các vở kịch dở mà xem: đối thoại từ đầu đến cuối ấy.
Muốn thành công, bạn sẽ tìm hiểu cả tâm lý bên trong và
ngôn ngữ “bên ngoài”, tìm hiểu tâm lý lại là chính. Vĩ có nhiều tác phẩm rất ít
đối thoại, mà tâm lý nhân vật vẫn sinh động. Chàng Văn không nói đến xi-nê-ma
hay vũ ba-lê biểu hiện tâm lý bằng tay chân và mắt đâu. Chàng Văn nói đến các
tiểu thuyết rất ít đối thoại ấy.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: ca
dao việt nam, vai tro cua
ngon ngu


