Thứ Hai, 3 tháng 8, 2015

Cái tưởng tượng quả là cái biến hình của cái đã sống


      Nghĩ cho cùng thì cái tưởng tượng quả là cái biến hình của cái đã sống như Páplencô nhận xét. “Ma” tuy không có thực, nhưng ngọn gió ào ào đổ lộc rung cây là có thực; dấu giày không phải của ma nhưng của người nọ người kia cũng đã từng in lên rêu là có thực; cái cảm giác sợ một con ma không có thực cũng là có thực… Những cái đã sống ấy tích lũy lâu ngày trong tâm trí Nguyễn Du, một ngày kia đã biến thành một cái rất hư ảo là ma! Hẳn bạn rất biết rằng cái tính sợ rắn của mình cộng với cánh tay khi ngủ vắt ngang lên ngực của mình đã biến hình thành một giấc mơ mình bị thuồng lồng đuổi quấn mình đến chết. 

Cái tưởng tượng quả là cái biến hình của cái đã sống

     Một nhà khoa học nói “giấc mơ chi là cách tổ chức mới của những cảm xúc cữ”. Chàng Văn theo đó mà nói: “Tưởng tượng chi là cách tổ chức mới, cách biến hình mới của những cái đã sống cũ”.
     Đã biết không có cảm xúc cũ, không có cái đã sống, không có thực tế cánh tay và lòng sợ rắn, thì không thể có sự tưởng tượng ra con thuồng luồng. Không có cái “tỉnh” lớn thì không có cái “mê” lớn vậy. Hay nói như lời tựa của Mai đình mộng ký.“Người có giác lớn mới có mộng lớn… Mộng be bé ắt giác be bé” v.v…
     Nghĩ ra cho cùng thì không phải muốn tưởng tượng lớn phải cần có thực tế lớn, mà ngược lại, khi không có tưởng tượng lớn cũng chỉ thấy thực tế xoàng xoàng mà thôi.
Quá niên trạc ngoại tứ tuần
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao…
     Hai câu ấy đã thành ra cái điển hình tả các anh chàng trai lơ đi chim gái. Nhung trai lơ đi chim gái có hạng bốn mươi, lại cũng có hạng suýt soát ba mươi hay mấp mé năm mươi. Có hạng áo quần bảnh bao nhưng mày râu không nhẵn nhụi. Có hạng thì mày râu nhẵn nhụi nhưng áo quần lại xốc xếch ít nhiều. Có hạng trứng cá đầy mặt. Có hạng răng vàng dầy mồm. Có hạng mắt lét mày la. Có hạng thì mày khép khép, mắt lũn dim như mèo già rình chuột… ấy, giữa bao nhiêu chi tiết hỗn độn ấy, chọn cái nào? Chọn cái nào mà nêu lên thì người ta biết ngay đấy là tả anh trai lơ, chim gái điển hình. Chọn cái nào mà “biết trước” là nó sẽ đúng trong nhiều trường hợp, đúng lâu dài. Không có óc tưởng tượng, làm sao mà “đoán” đúng để chọn cho đúng. Hoặc là anh sẽ tả chung chung, “đây là một người trai lo, chim gái”, hoặc là anh sẽ ôm đồm tất cả các chi tiết như ôm lấy cả một khu rừng, hoặc anh chỉ chọn lấy một chi tiết vạ vịt nào, như tình cờ nhặt lấy một chiếc lá không đại biểu cho gì gì cả.
     Chàng Văn chúc bạn sẽ theo bài học của ba nhà văn trên. Đầu tiên là bám lấy sự thực, bám lấy sự thực trong từng chi tiết như Babel. Nhưng khi đã có hàng nghìn, hàng vạn, hàng triệu, hàng ức mảnh thực tế rồi thì lại làm theo lời dạy của A. Tolstoi: “Nghệ thuật vơ lấy cuộc sống tản mạn, nhặt vô số sự vật tản mát “cô” lại…”. Một sự thực gần sẽ gợi cho bạn một sự thực xa hon, một sự thực nhỏ hon sẽ gợi cho bạn một sự thực lớn khác, một sự thực gợi nên rất nhiều sự thực, hăm nghìn sự thực cô đọng lại thành một cái điển hình (thành cái Sự Thật hay Chân Lý viết hoa) và nói như A. Tolstoi: “Thế là bạn có được chù nghĩa hiện thực, còn thực hơn chính cuộc sống”, hay nói như Pavlenko “cái đã sống” đang “biến hình”. Lúc ấy gọi là bạn phản ánh thực tế cũng được, gọi là bạn sáng tạo hay tưởng tượng cũng được.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: ca dao viet nam, vai trò của ngôn ngữ

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

Chúng ta viết văn không phải là viết bằng con mắt, mà viết với tâm hồn


       Một nhà văn nào đấy mắc bệnh sách vở làm cho rối đầu nên quên mất tên nói là: “Muốn tả một cánh rừng phải biết cây này khác với cây kia thế nào, thậm chí cành dưới với cánh trên có gì phân biệt được”. Một nhà văn khác cũng lại nói: “Nếu anh không phân biệt được chiều hôm nay có cái gì khác chiều hôm trước, sáng hôm nay có cái gì chưa thấy ở buổi sáng hôm sau thì anh đừng có viết văn”.

Chúng ta viết văn không phải là viết bằng con mắt, mà viết với tâm hồn

         Không hiểu hai nhà văn tuyên bố lên hai câu nói đó quả là có khả năng như thế thực không nhưng cứ qua lời nói của họ thì óc quan sát quyết không phải là chuyện choi đâu đấy. Óc quan sát rất cần cho nhà văn, cho nhà văn hiện thực chúng ta tả con suối ra con suối, con người ra con người. Ta không thể làm như các nhà văn ấn tượng, siêu thực, tượng trưng, tả con suối thành con người, và con người thành cây đàn, ngọn lửa hay con chim cũng được.
        Bởi thế các bạn quen của Chàng Văn làm cái nghề văn vẻ này – nhất là nghề tiểu thuyết – họ hay luyện óc quan sát. Chả phải đi theo một lớp ba tháng, sáu tháng hay dài hạn gì đâu. Vào một hiệu phở, ra sân ga, họ thách nhau đoán xem: người khách ngồi ăn hay đang lấy vé tàu kia là hạng người nào, họ đi đâu, làm nghề nghiệp gì, họ có liên quan gì với cái cô ngồi ở giữa hay cái ông đứng hờ bên cạnh, tất cả họ đang có những tâm trạng gì? Cố nhiên là nhà văn ta dễ đoán saibét, nhưng chả sao! Anh ta chỉ cốt tập cho mắt anh ta, tai anh ta, trí óc anh ta trước hết đừng nằm không, nó phải hoạt động lên cho thành nếp đi một tí.
        Nhiều nhà văn khác thì lại tập xem tranh và đoán xem: vì sao trên mặt người thiếu phụ này, họa sĩ lại cho ngả một chút bóng chiểu? Vì sao cô công nhân kia tay cầm đèn bão mà trong mắt lại không có gì giông tố hết? Ờ… ờ… lúa ở đây màu vàng nhưng đến cuối bức tranh, màu vàng của lúa lại như pha thêm với màu đỏ của cờ. Những cái mà hoạ sĩ đã để ra hàng tháng hàng năm hay cả đòi quan sát, nhận xét và vẽ nên, bây giờ anh chỉ có việc phanh phui ra mà hưởng thụ.
       Bạn có thể nghĩ ra những phương pháp riêng để luyện tập óc quan sát của mình. Những phương pháp giản đơn thôi! Và không chỉ nhà văn mới có! Cạnh Chàng Văn có anh thợ là, anh ta không cần xem sổ mà nhớ hết áo quần của mọi người! Lại các đứa con của Chàng Văn, chúng nó hay đi bắt tổ chim, nên chỉ nhìn qua một cái các mái nhà là chúng biết nhà nào có tổ chữa, ở đâu tổ chim đã có trẻ khác bắt rồi, đâu chưa có tổ… Yêu công việc gì, tự nhiên ta chú ý đến công việc ấy, và không quên được các chi tiết xảy ra.
        Trên đây là tất cả điều Chàng Văn “nói vào”. Bây giờ Chàng Văn xin mạn phép “nói ra”! óc quan sát là rất cần! Việc phát hiện các chi tiết là rất cần! Nhưng không có nó thì cũng có thể làm văn và làm văn hay được! Số là nó thế này: Chúng ta viết văn không phải là viết bằng con mắt, mà viết với tâm hồn. Và chúng ta tả hay dụng một sự việc gì là tả cái toàn bộ chứ không phải tả cái chi tiết vậy.


Đọc thêm tại:

Khi viết phải nhập thân vào cái mình đang viết


       Thực ra nghề kịch còn rắc rối hơn nhiều! Một nhân vật nào đó, một cô thư ký đánh máy chữ chả hạn, chỉ qua sân khấu có mười lăm phút thôi, nhưng diễn viên lại cần hiểu rõ cả đời cô ấy: “Có chồng chưa? Chồng ở đâu, làm nghề gì? Cô ấy lương bậc mấy? Có thích đi xi-nê hay chỉ thích xem hát tuồng? về nhà có yêu mẹ già không hay cáu gắt với mẹ?…” Không phải chỉ hiểu cuộc đòi của nhân vật từ lúc bé cho đến lúc hiện lên sân khấu, mà còn phải “tưởng tượng” ra cả cuộc đời của cô ta sau khi sân khâu hạ màn. 

Khi viết phải nhập thân vào cái mình đang viết

        Ví dụ trên kịch, cô thư ký kia lấy ông chánh văn phòng xong là hạ màn rồi đấy, nhưng diễn viên phải tưởng tượng xem sau đó họ có yêu nhau mãi không, hay là bận rộn vì công văn giấy tờ nên thỉnh thoảng lại gắt nhau một tí cho vui?… Bắt nhà kịch, nhà văn nhìn thấy thấu đáo nhân vật mình như thế thì anh ta sẽ từ bỏ được cái nếp quen nghĩ ra những nhân vật chung chung, cô thư ký đánh máy chung chung, ông chánh văn phòng chung chung, anh ta sẽ phải nghĩ đến những nhân vật riêng, có cá tính riêng -cô thư ký đánh máy có mẹ chứ không phải cô thư ký có cậu, cô, dì; hoặc ông chánh văn phòng có người yêu thích xi-nê chứ không phải ông chánh văn phòng có người yêu thích tuồng và kịch – nghĩ ra con người “này”, nhân vật “này” như lời nói của Engels.
        Đọc to lên câu mình viết chính là gọi nhân vật dậy và nhập thân vào nhân vật. Và làm cả như Balzac phải xô cả bàn ghế loảng xoảng lên chỉ vì nhân vật đang ở trong trạng thái cãi nhau… Chàng Văn “đâm nghĩ’ là “hình như” cụ Nguyễn Du “có lẽ” “cũng” đã phải làm như thế: ví dụ khi cụ tả đoạn Kim Trọng định lôi thôi với Thúy Kiều, Thúy Kiều cự tuyệt:
Sóng tình dường đã xiêu xiêu Xem trong âu yếm có chiểu lả loi.
Nàng rằng:“Đứng lấy làm choi “Để cho thưa hết một lời đa nao!”
          thì hình như vừa viết câu “để cho”, cụ Nguyễn Du vừa túm lấy tay anh Kim Trọng lại. Anh Kim Trọng đành xin lỗi và chờ cụ lần sau. Lại như khi cụ tả con mụ Tú bà mắng Thúy Kiều đã “bị” vì Mã Giám Sinh:
“Màu hồ đa mất đi rồi
Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma!
Con kia đa bán cho ta
Nhập gia, phải cứ phép nhà ta đây!
Lao kia có giở bài bây
Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe!
Cớ sao chịu tốt một bề
Gái tơ mà đa ngứa nghề sớm sao!…”
        Thì hình như cụ chính là cô Kiều đứng im thin thít một bề, cụ lại vừa là con mụ Tứ bà nhảy chồm chồm lên mà xỉa xói những câu trên này vào mặt cụ vậy!
         Đọc to và làm điệu bộ những câu nhân vật nói như trên tức là làm cho nhân vật từ một khái niệm lờ mờ chung chung trong óc trờ nôn một con người bằng xương, bằng thịt, có sự sống riêng biệt bên ngoài, từ một sáng tạo rất chủ quan của nhà văn trở nên một hiện thực khách quan mà mọi người (đầu tiên là nhà văn) có thể nghe ngóng, sờ mó, kiểm tra được.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: ca dao là gì, tài liệu văn học dân gian